VSCI - Nhu cầu các giải pháp phục vụ quản trị chuỗi cung ứng và logistics ở Việt Nam

6/2011 vừa qua, tạp chí Vietnam Supply Chain Insight – VSCI) đã thực hiện một cuộc khảo sát về “Nhu cầu các giải pháp phục vụ quản trị chuỗi cung ứng và logistics ở Việt Nam”.

 

Đây là khảo sát được thực hiện định kỳ hàng năm của tạp chí VSCI nhằm mục tiêu nghiên cứu nhu cầu của các doanh nghiệp tại Việt Nam về giải pháp “phần cứng và phần mềm” trong quản trị chuỗi cung ứng và logistics, bao gồm từ nhu cầu tìm hiểu về các hệ thống công nghệ thông tin, trang  thiết  bị  điện  tử,  các  công  nghệ quản lý mới, các hệ thống kệ hàng, hệ thống vận chuyển nội, xe tải trong các lĩnh  vực  sản  xuất,  phân  phối,  bán  lẻ, cung cấp dịch vụ logistics…

         Tạp chí VSCI xin chân thành cảm ơn  các  công  ty  đã  dành  thời  gian  để giúp chúng tôi hoàn thành cuộc khảo sát  sâu,  rộng  này. VSCI  mong  tiếp  tục nhận được sự hỗ trợ trong thời gian tới để chúng tôi hoàn thành sứ mạng của mình  là  mang  lại  những  thông  tin  giá trị  cho  cộng  đồng  các  doanh  nghiệp Việt Nam. Trong khuôn khổ của bài viết này, chúng tôi chỉ có thể chia sẻ được cho các bạn đọc phần nào kết quả khảo sát. Dưới đây là kết quả của khảo sát được ghi nhận và tổng hợp.

Bảng 1: Đối tượng tham gia khảo sát tính theo quy mô doanh số (hàng năm)

Image001

 

Đối tượng tham gia khảo sát

         Cuộc khảo sát được tiến hành thông qua hình thức gửi email trực tiếp đến các nhà lãnh đạo, quản lý cao cấp của hơn 500 công ty sản xuất, phân phối/bán lẻ, công ty cung cấp dịch vụ logistics hàng đầu Việt Nam.

         Khảo sát được thực hiện trong vòng 02 tháng và đã nhận được sự hưởng ứng tích cực của 297 công ty, trong đó các công ty hàng tiêu dùng, thực phẩm/thức uống, dịch vụ logistics chiếm tỷ lệ khá cao. Các công ty tham gia trả lời thuộc nhóm công ty có doanh thu hàng năm từ 10 đến hơn 100 tỷ đồng (xem bảng 1), quy mô lớn với diện tích kho trên 10,000m2 chiếm 48.1% và người đại diện trả lời giữ các vị trí quan trọng như Tổng Giám Đốc, Giám Đốc Điều Hành, Giám Đốc Chuỗi Cung Ứng, Giám Đốc Logistics.

 

Tóm tắt

         So với kết quả khảo sát năm 2010, ảnh hưởng của việc khủng hoảng kinh tế, năm 2011 nhu cầu đầu tư sụt giảm đáng kể. Các doanh nghiệp tận dụng cơ hội và thời gian để đầu tư vào năng lực phát triển cốt lõi là phát triển nguồn lực thông qua các khóa đào tạo phổ biến về quản trị Logistics cho nhân viên chuyên trách chiếm tỷ lệ cao nhất so với nhu cầu cùng loại là 19.8%;  tư vấn, cải tiến hoạt động quản lý chuỗi cung ứng cụ thể, nhu cầu tư vấn triển khai CNTT chiếm tỷ lệ cao nhất (chiếm 21.7%); các giải pháp phần mềm Hoạch định/dự báo nhu cầu khách hàng,  Quản lý vận hành kho, trang thiết bị (WCS); Quản lý kho (WMS) chiếm tỷ lệ quan tâm đầu tư cao nhất là 22.6%.

 

Bảng 2: Đối tượng tham gia khảo sát tính theo nhóm ngành nghề kinh doanh

Image002

 

Bảng 3: Quy mô kho của nhóm đối tượng tham gia khảo sát hiện đang sử dụng

Image003

Phương tiện vận tải

Về phương tiện vận tải, nhóm đối tượng khảo sát đã đầu tư không có sự chênh lệch lớn giữa các loại xe tải cỡ lớn, xe tải cỡ trung và xe tải nhẹ với tỷ lệ lần lượt 35.8%: 34.9%: 29.2%. Bên cạnh đó, việc các công ty thuê ngoài để đơn vị vận tải tự đáp ứng chiếm tỷ lệ khá cao là 35.6%

Về nhu cầu đầu tư trong tương lai, nhóm đối tượng khảo sát sẽ vẫn để các đơn vị được thuê ngoài đầu tư với tỷ lệ 8.5%.

Bảng 4: Phương tiện vận tải

Image004

Hệ thống quản lý vận tải

Hệ thống Quản lý vận tải (TMS) đã được đầu tư cao nhất trong nhóm nhu cầu cùng loại (chiếm 25.5%) và nhu cầu này vẫn sẽ tiếp tục tăng thêm 12.3% trong thời gian tới bên cạnh việc đầu tư vào Hệ thống tối ưu hóa lịch trình, tuyến đường và Hệ thống giám sát, kiểm soát có ứng dụng hệ thống định vị toàn cầu GPS

Bảng 5: Các hệ thống quản lý vận tải

Image005

Hệ thống kệ

         Ước tính Việt Nam có phần lớn (khoản 70-80%) các kho và trung tâm phân phối không hiện đại và kém hiệu quả. Với nhóm đối tượng được khảo sát thì đa số họ sở hữu kho và trung tâm phân phối tương đối tốt với việc đầu tư Hệ thống kệ để hàng cao tầng (3-7 tầng, selective, drive-in) và sẽ tiếp tục đầu tư thêm 9.4% nữa trong tương lai.

                Bên cạnh đó, Hệ thống kệ di chuyển được (removal racking system) sẽ tăng 7.5%; Hệ thống lưu trữ và lấy hàng tự động AS/RS sẽ tăng 8.5%; Hệ thống băng truyền phân loại tự động sẽ tăng thêm 12.3%.

Bảng 6: Hệ thống kệ

Image006

Hệ thống vận chuyển nội bộ

         Xe nâng hạ folk-lift, các hệ thống, thiết bị nâng hạ điều khiển dock (dock leveler, bumper…) và xe nâng hạ tay handlift đã được đầu tư với tỷ lệ khá cao lần lượt là 29.2%: 26.4%: 25.5%.

         Các nhu cầu đầu tư vào hệ thống vận chuyển nội bộ sẽ tiếp tục trong tương lai với việc đầu tư vào các hệ thống, thiết bị nâng hạ điều khiển dock (dock leveler, bumper…) và xe nâng hạ tay handlift là  12.3% và thấp nhất là xe nâng hạ dạng reach truck: xe dùng để nâng hạ pallet từ các kệ cao (3-7 tầng) do nhu cầu này đã được đầu tư cao nhất trong hiện tại.

Bảng 7: Hệ thống vận chuyển nội bộ

Image007

Hệ thống đọc mã vạch, nhận dạng

         Phần lớn các doanh nghiệp được khảo sát đã đầu tư vào hệ thống barcode. Tuy nhiên, nhu cầu đầu tư vào công nghệ RFID được dự kiến sẽ tăng 12.3% trong tương lai bên cạnh công nghệ nhận dạng tiếng nói là 9.4%.

Bảng 8: Hệ thống đọc mã vạch, nhận dạng

Image008

Hệ thống thiết bị phục vụ đóng gói

                Các doanh nghiệp khảo sát đã tự đầu tư vào thiết bị đóng gói và dán nhãn với tỷ lệ 21.7% và 18.9%. Xu hướng đầu tư này sẽ tiếp tục tăng thêm 18.9% ở nhóm thiết bị đóng gói và 19.8% ở máy dán nhãn.

Bảng 9: Hệ thống thiết bị phục vụ đóng gói

Image009

Thiết bị trong sản xuất

                Với đa số các doanh nghiệp có doanh thu trên 100 tỷ hàng năm, họ đã đầu tư vào việc tư động hóa để tối ưu việc sản xuất và quản lý. Nhóm thiết bị được đầu tư cao nhất là Hệ thống robot và hệ thống tự động hóa sản xuất chiếm 14.2%. Xu hướng trong tương lai, nhóm nhu cầu này sẽ tăng khi đầu tư vào hệ thống Kaban và tự động hóa sản xuất đều chiếm tỷ lệ ngang nhau là 16%.

Bảng 10: Thiết bị trong sản xuất

Image010

 

Các hệ thống thiết bị khác

                Yếu tố an toàn vẫn được ưu tiên đặt lên hàng đầu khi các doanh nghiệp đều đã trang bị hệ thống cứu sinh, cứu hỏa 28.3%. Tuy nhiên, nhu cầu này vẫn chưa được đầu tư đúng mức khi nhu cầu của tương lai chỉ tăng thêm 12.3%. Hệ thống làm vệ sinh kho sẽ tiếp tục phát triển khi dự kiến sẽ được đầu tư thêm 18.9%.

Bảng 11: Các hệ thống thiết bị khác

Image011

Nhu cầu về giải pháp phần mềm

         Quản lý hoạt động trong kho tốt không những tiết kiệm diện tích, tiết kiệm chi phí mà sẽ giúp nâng cao dịch vụ khách hàng. Giải pháp quản lý vận hành kho, trang thiết bị (WCS) đã được đầu tư với tỷ lệ 20.8% và sẽ tăng 22.6% trong tương lai.

         Hoạch định/dự báo nhu cầu khách hàng sẽ là xu hướng đầu tư tăng cao nhất trong nhóm nhu cầu cùng loại với tỷ lệ 22.6%. Với thực tế dự báo kém, các doanh nghiệp Việt Nam đã lãng phí biết bao tiền của vào tồn kho ngất ngưỡng hoặc để đối thủ chiếm mất khách hàng khi hàng không đủ trên kệ bán.

Bảng 12: Nhu cầu về giải pháp phần mềm

Image012

 

Nhu cầu về đào tạo

         Việc khủng hoảng kinh tế sẽ tiếp tục kéo dài đến năm 2012, việc sở hữu những chiến binh tinh nhuệ, nhạy và can đảm để chiến đấu trong cuộc chiến dành khách hàng là một trong những yếu tố quan trọng mà doanh nghiệp cần đầu tư. Nhu cầu bắt buộc đào tạo học và hành sẽ tăng theo xu hướng đào tạo riêng về quản trị Logistics dành cho doanh nghiệp sẽ tăng 16% bên cạnh việc đào tạo đại trà chiếm 19.8% và đào tạo có chứng chỉ của các tổ chức uy tín đặc biệt là APICS chiếm 17%.

Bảng 13: Nhu cầu về đào tạo

Image013

 

Nhu cầu tư vấn

         Trong  các  nhu  cầu  về  dịch  vụ  tư  vấn đơn  lẻ  cho  vấn  đề  tối  ưu  trong  hoạt động  quản  trị  chuỗi  cung  ứng  và logistics,  thì  hiện tại,  các công ty đã sử dụng dịch vụ tư vấn thì việc tư vấn cải tiến hoạt động logistics đã được đầu tư cao nhất (chiếm 19.8%), tiếp theo là tư vấn triển khai S&OP (chiếm 16%) và thấp nhất là tư vấn triển khai CNTT trong quản lý chuỗi cung ứng (chiếm 6.6%). Tuy nhiên, với nhu cầu tương lai, nhu cầu của nhóm đối tượng được khảo sát lại quan tâm đến tư vấn triển khai CNTT trong quản lý chuỗi cung ứng lại cao nhất (chiếm 21.7%) và thấp nhất là tư vấn triển khai S&OP (chiếm 7.5%).

Bảng 14: Nhu cầu tư vấn

Image014

 

http://supplychaininsight.vn/home/supply-chain/tech565876289/item/653-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-n%C3%A0o-%C4%91%E1%BB%83-qu%E1%BA%A3n-tr%E1%BB%8B-chu%E1%BB%97i-cung-%E1%BB%A9ng-hi%E1%BB%87u-qu%E1%BA%A3.html

West vs. East

--

Best Regards,

 

Tai Tran
Yahoo!ID: tai.tran ; Skype: tai.trant ; Phone: +84 (0)904902525

Professional homepage: http://www.taitran.vn

“Mổ xẻ” nợ xấu của 8 NHTM niêm yết

Tổng nợ xấu của 8 NHTM niêm yết tính tại thời điểm 30/9/2011 lên tới gần 15.018 tỷ đồng. Trong đó nợ có khả năng mất vốn là 8.293 tỷ đồng. VCB có nợ xấu cao nhất 3,9%.

8 NHTM niêm yết trên hai sàn đều đã công bố kết quả kinh doanh quý 3 và 9 tháng đầu năm 2011 của ngân hàng mẹ. Theo đó, duy nhất Habubank (HBB) có LNST giảm nhẹ 6% so với cùng kỳ 2010, còn lại các ngân hàng khác đều tăng trưởng mạnh, đặc biệt Eximbank (EIB) tăng trưởng 65%, Vietinbank (CTG) tăng trưởng 45%, Navibank (NVB) tăng trưởng 30% so với cùng kỳ 2010.

Tăng trưởng tín dụng

Tính đến 30/9/2011, tăng trưởng tín dụng của ngân hàng mẹ NVB đã lên tới 19,5%, của CTG là 16,6%, của SHB là 16,3%, của ACB là 15,1%. Habubank có tỷ lệ tăng trưởng tín dụng thấp nhất, tăng 0,6% so với đầu năm, tiếp theo là STB 3,6%.

Ngân hàng

CTG

VCB

STB

EIB

ACB

SHB

HBB

NVB

Tổng dư nợ
tại 30/9/2011

271,677

188,473

80,149

69,524

99,719

28,252

18,685

12,869

Tăng trưởng tín dụng

16.60%

7.30%

3.60%

11.50%

15.10%

16.30%

0.60%

19.5%

Nợ xấu
đến cuối T9/2011

1.40%

3.90%

0.60%

1.50%

1.10%

1.50%

2.80%

2.80%

Nợ xấu
cuối năm 2010

0.70%

2.80%

0.50%

1.40%

0.30%

1.40%

2.40%

2.20%

Trích lập dự phòng
9 tháng 2011

2,185

1,687.40

383.6

164

303.8

41.87

137

31.76

Lợi nhuận sau thuế
9 tháng 2011

4,129

3,308.60

1593.6

2028

2101.4

533.5

391.6

147.4

Tăng trưởng LNST so với cùng kỳ 2010

49%

6%

6%

65%

15%

32%

-6%

30%

(Nguồn: BCTC riêng lẻ của các NHTM quý 3/2011)

Dư nợ cho vay của CTG tính đến cuối quý 3/2011 là gần 271.680 tỷ đồng; điều này lý giải về việc thu nhập lãi thuần (cho vay) của Vietinbank trong quý 3/2010 tăng tới 80% so với quý 3 năm ngoái, 9 tháng tăng 76% cùng kỳ 2010; thu nhập lãi thuần của NVB cũng tăng tới 49% cùng kỳ 2010…

Tuy nhiên nếu theo chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng dưới 20% của NHNN thì “room” cho vay của Navibank trong quý 4/2011 không còn nhiều.

Tuy nhiên, đằng sau câu chuyện tăng trưởng lợi nhuận thì câu chuyện nợ xấu đang là mối quan tâm hàng đầu của giới đầu tư đối với các NHTM lúc này.

VCB có tỷ lệ nợ xấu cao nhất khối NHTM niêm yết

Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN, nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nợ nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn).

Nếu căn cứ theo Quyết định 493 về phân loại nợ, thì Vietcombank (VCB) bất ngờ lại là ngân hàng có nợ xấu cao nhất 3,9%, tiếp theo là NVB (2,8%), HBB (2,8%). Sacombank (STB) là ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu thấp nhất (0,6%).

Image001

Hầu hết các NHTM niêm yết đều có tỷ lệ nợ xấu tăng mạnh so với cuối năm 2010. Đáng chú ý, nợ có khả năng mất vốn (nợ nhóm 5 – phải trích lập dự phòng 100%) tăng mạnh.

Tại 30/9/2011

CTG

VCB

STB

EIB

ACB

SHB

HBB

NVB

Tổng cộng

Nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5) - tỷ đồng

1,691

4,950

169

490

263

233

351

147

8,293

 

Nợ nhóm 2 (nợ cần chú ý) của HBB chiếm 24% tổng dư nợ, của VCB là 18,78% tổng dư nợ. Mặc dù nợ nhóm 2 chưa được tính vào nợ xấu nhưng chỉ cần các khoản nợ này quá hạn trên 90 ngày hoặc các khách hàng có thêm một khoản nợ bị chuyển vào nhóm rủi ro cao hơn thì khoản nợ đó sẽ bị cơ cấu lại thành nợ xấu. Tỷ lệ nợ nhóm 2 cao cũng là một tín hiệu đáng lưu ý.

Image007

Tổng nợ xấu của 8 NHTM niêm yết tính tại thời điểm 30/9/2011 lên tới gần 15.018 tỷ đồng. Trong đó tổng nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) lên tới 8.293 tỷ đồng.

Theo quyết định 493, nợ nhóm 1 không phải trích lập dự phòng, nợ nhóm 2 trích lập dự phòng 5%, nợ nhóm 3 là 20%, nợ nhóm 4 là 50% và nợ nhóm 5 phải trích lập đủ 100%.

 

Rủi ro thanh khoản

Nếu nhìn vào cơ cấu kỳ hạn huy động vốn và cho vay của các NHTM, chúng ta sẽ không khỏi "giật mình" vì ngoại trừ các NHTM lớn có vốn huy động dài hạn, các NHTM nhỏ hầu như không có khoản tiền gửi trên 5 năm, đa số là các khoản tiền gửi 1 tháng đến 3 tháng.

Image004

99,8% tiền gửi của khách hàng NVB (không tính tiền gửi và vay của NHNN và các TCTD khác) là các khoản tiền gửi dưới 1 năm trong đó 72,4% là tiền gửi dưới 1 tháng, 22,4% là tiền tửi từ 1-3 tháng, không có khoản tiền gửi nào trên 5 năm.

SHB cũng ở tình trạng tương tự với 99,85% khoản tiền gửi của khách hàng là tiền gửi dưới 1 năm trong đó tiền gửi dưới 1 tháng chiếm tới 71,7%.

CTG, STB, EIB có khoản tiền gửi trung hạn tương đối cao so với các ngân hàng khác. CTG có tỷ lệ tiền gửi trên 5 năm khá cao so với các NH khác.

Image008

Các NHTM cho vay trung và dài hạn trong khi các khoản tiền gửi của khách hàng lại chỉ tập trung vào các kỳ hạn ngắn từ 1-3 tháng sẽ khiến các ngân hàng có thể gặp rủi ro về thanh khoản. Hơn nữa, nợ xấu tăng nhanh qua các tháng, đặc biệt nợ có khả năng mất vốn tăng cao (lên tới 8.293 tỷ) là 1 khó khăn của các ngân hàng hiện nay.

Phương Mai

Theo TTVN/BCTC các NHTM

About


Facebook